1

Téma: bieu cam nghi luan que huong thon vi con tu hu van ban van hoc

luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận bài thơ quê hương phân tích khổ 1 bài đây thôn vĩ dạ phân tích bài thơ khi con tu hú soạn văn bản văn học 

luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận 
bài thơ quê hương 

Và sau chậm triển khai nhà thơ đã nói, đã trần thuật về chiếc làng chài của mình. Câu thơ mang tính thông tin tiếp theo cho thấy đây là 1 làng chài ở vùng cửa sông sắp biên. Bằng hai câu thơ trước tiên, tác fake đã giới thiệu vị trí địa lý và đặc điểm nghề nghiệp của làng quê. Quê là làng, nghề của làng là chài lưới.

Trong tâm tưởng của nhà thơ, sau lời giới thiệu đó, hình ảnh làng chài như đang hiện ra trước mắt. Và thi sĩ đã biểu thị cụ thể một ngày ra khơi đẹp trời, dân làng "bơi thuyền đi đánh cá". Trong khung cảnh "trời trong, gió nhẹ, ban mai hồng". Phải nói là 1 buổi sáng đẹp trời hoàn hảo Vẻ đẹp tinh khôi, mát mẻ, dễ chịu, khoáng đãng, bao la sắc hồng của bình minh. Và chỉ những người làm nghe chài lưới mới thấy hết được tầm quan trọng thiết yếu của các buổi đẹp trời ko chỉ báo hiệu một buổi ra khơi lặng lành, mà còn hứa hẹn các mẻ lưới bội thu. Trong loại khung cảnh để làm cho lòng người phấn khích ấy, đoàn "trai tràng" bơi thuyền ra khơi, khởi đầu một ngày cần lao của mình. làm nghề đánh cá nặng nhọc này phải là các người khóe mạnh vạm vỡ mới mang thểè phụ trách nỗi. Chỉ với những chàng trai mới mang thể điều khiển nỗi dòng thuyền "nhẹ bằng như con tuấn mã", mới "phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang" được. có thể đề cập đây là một chuyến ra khơi đầy náo nức. những câu thơ diễn đạt trực tiếp cảnh dân làng ra khơi đánh cá với ý nghĩa như những chi tiết tả chân giúp nguời đọc nghĩ đến được không gian, đoàn thuyền tương đối sinh động. Trên nên nhắc tả ấy xuất hiện 2 câu thơ với vẻ đẹp bất ngờ:

Cánh buồm trương, to như mảnh hòn làng

Rướn thán trắng bát ngát thấu góp gió.

Cánh buồm là 1 vật cụ thể hữu hình được ví mang "mảnh hồn làng" là mẫu trừu tượng, vô hình, 1 bí quyết ví von nhờ sự liên tưởng hơi xa và độc đáo của tác nhái. Mỗi 1 vùng quê sinh sống lâu được hình như bao giờ cũng sở hữu một hồn phách rất rộng. Và người xa quê hương cảm nhận rất rõ loại hồn Đó. Đối có Tế hanh hao thuở mười tám tuổi, hình ảnh chiếc buồm ra khơi nghe đâu có khá thở, nhịp đập, hồn vía quê hương. mang một "mảnh hồn làng" nó đậu mãi trong tâm hồn nhà thơ. Hình ảnh cánh buồm "num thân trắng mênh mông thản góp gió" thật đẹp ương dáng võ cường tráng, sức vóc tung tỏa của nó. 2 câu thơ trên đạt hình ảnh giàu ý nghĩa, đưa nó lên thành tượng trưng của tâm hồn.

Tác fake không tả một người nào cụ thể, mà là tả chung gợi ko khí làng cá. Ở đây chỉ với âm thanh ồn ào chỉ mang trạng thái "tấp nập", nhưng rõ ràng là 1 ko khí vui vẻ, rộn ràng, thỏa mãn. "Nhờ ơn trời" như là tiếng reo vui, tiếng thở phào nhẹ nhõm bái tạ tự dưng trời biển đã viện trợ. Phái là con em làng chài mới thấy hết được niềm vui bình dị khi đón ghe đầy cá "những con cả tươi ngon".

Trong quang cảnh đó, hình ảnh những "trai tráng" sức vóc dạn dày sóng gió, mang "làn da ngăm rám nắng" kia được hiện lên qua các câu thơ thật đẹp "Cả thân hình nồng thờ vị xa xăm". Đây là chân dung những người dân chài lưới, chậm tiến độ như là các sinh thể được tách ra trong khoảng biển, với vị mặn mòi của biển, với theo về cả các hương vị biển xa. Họ là những đứa con của biển khơi. Câu thơ thật lãng mạn, khoáng đạt, sở hữu vẻ đẹp giản dị nhưng cũng thật khỏe khoắn, thơ mộng.
Con thuyền trước đây "hăng như tuấn mã", "phẳng mái chèo" mạnh mẽ ra đi, bây giờ mệt mỏi trở về bên nghỉ. Con thuyền lại được nhân hóa, nó nằm yên ổn, mệt mỏi thư giãn và lắng tai "chất muối thấm dần trong thơ văn". trạng thái nghỉ ngơi của con thuyền thật đặc trưng. Và cũng phải yêu quý lắm, mới có thể thấy con thuyền cũng là 1 thành viên của làng biển như tác kém chất lượng đã tưởng tượng. Nhưng nói về Con thuyền, kì thực cũng nhắc vế con người cả thôi. Giờ đây những người dân chài sở hữu thể hoàn toàn yên tâm mà ngã mình mãn nguyện và lặng yên thư giãn. những dư vị của chuyến đi chỉ còn là dõi hình ảnh thấp thoáng, chấp chới trong tương tượng êm dịu của họ.

kết thúc bài thơ, tác fake trực tiếp bộc lộ nồi nhớ về hình ảnh làng chài theo ấn tượng chung nhất: "Màu nước xanh, cá bạc, mẫu buồm vơi", "con thuyền rẽ sóng", và đặc thù "nhớ dòng mùi nồng mặn quá".

Nhớ tới cả chiếc mùi vị biệt lập của xứ biển tức thị nỗi nhớ thật da diết và thật sâu sắc. Vâng, Đó là mùi của biển cả, của sóng, của gió, của rong rêu, của cá, của cả cái vị mồ hôi trên lưng áo người đi biến. mẫu mùi vị thân thuộc và thân thương chậm triển khai cũng chính là một phần của "hồn làng", của hồn phách quê hương.

Bài thơ trong trẻo từ đầu tới cuối. chậm tiến độ là tấm lòng yêu nhớ quê hương của 1 chàng trai thuần phác gắn bó có thế cục. Trong mỗi đời người ai cũng có một quê hương để nhớ. mang Tế hanh hao, cái làng chài lưới này đã phát triển thành nguồn thi cảm ko vơi cạn. Người ta thường kể ông là thi sĩ của quê hương sông nước, mà trong rộng rãi trường hợp quê hương chỉ thu gọn về một loại làng chài lưới của riêng ông.

http://lamvanmau.com/wp-content/uploads/2018/01/que-huong-te-hanh-768x418.jpg

Tóm lại "Quê huơng" là một bài thơ tiêu biêu cho hôn thư dung dị mặn mòi của Tê hanh hao. với nghệ thuật đặc sắc ử cách cam nhặn tinh tẽ, hình ảnh dặc trưng và chắt lọc, tác nhái khiến sống mãi 1 làng chài thân thương trìu mến. Thúy chùng có 1 miền quê - 1 miền thơ như the nên vấn thư quê hương của Tế hanh vẫn giữ mãi một vẻ riêng độc đâo, hấp dần bao the hệ yêu thư.

Bài thơ quy hứng được Nguyễn Trung Ngạn sáng tác bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật, lời ít nhưng ý nhiều. Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã khắc họa những hình ảnh rất đỗi quen thuộc nơi quê nhà:

“Dâu già lá rụng tằm vừa chín”

Lúa sớm bông thơm cua béo ghê”

ai cũng mang 1 miền quê để thương để nhớ. với Nguyễn Trung Ngạn cũng vậy, bài thơ được viết lúc ông đi sứ trở vể. Ông nhắc tới các hình ảnh gần gũi thân thương quê hương mình. chậm triển khai là “dâu”, “tằm”, “lúa”, “cua”. nhà thơ đã rất khéo léo khi mô tả mọi hình ảnh chi tiết đều đang ở độ chín. ngừng thi côngĐây là “dâu già”, “tằm vừa chín”, “lúa” “bông thơm” và “cua béo”. Câu thơ gợi lên một ngày trở về của vị quan triều đình, ông đi qua cánh đồng dâu xanh mông mênh cùng có các nong tằm, hương lúa thoảng thoảng mùi thơm cộng hình ảnh các con cua đồng béo. một vùng quê bình yên ổn và trù phú hiện lên trước mắt người đọc, bình lặng như bao miền quê khác trên dải đất hình chữ S này. Đọc câu thơ, ta cảm nhận được các cánh đồng lúa buổi sớm mai đẹp như 1 tấm thảm, tỏa hương lúa mới rất riêng. Người đọc cũng cảm nhận được hình ảnh cua đồng béo rẻ cộng món ăn dân dã là bát canh cua ngon ngọt mỗi trưa hè. phần đông những hình ảnh mộc mạc đấy tạo nên một hồn quê, 1 nơi để thi sĩ trở về. Hình ảnh quê hương bước vào thơ ca dù trung đại hay hiện đại đều với những nét giản dị, thực tình tới thế. nếu như nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn nhớ vườn dâu, ruộng lúa thì nhà thơ Đỗ Trung Quân lại nhớ :

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày”

thi sĩ Tế hanh cũng góp vào chủ đề tình yêu quê hương đó những cái sông xanh biếc:

“Quê hương tôi với con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc các hàng tre”

nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn càng khẳng định tình yêu quê hương đất nước lúc so sánh quê hương mình với 1 đất nước trù phú nơi ông đi sứ:

“Nghe nói ở nhà nghèo vẫn phải chăng

Dẫu vui đất khách chẳng bằng về”

thi sĩ đã nhấn mạnh “nghèo vẫn tốt” trong câu thơ như muốn nhấn mạnh dù ở quê hương mang nghèo các vẫn rất tốt. Bởi lẽ 1 điều người nào cũng hiểu, quê hương vốn là nơi ta sinh ra và to lên, cho ta bao kỷ niệm gắn bó. Nên quê hương luôn là 2 tiếng linh nghiệm như 1 phần máu giết thịt của mỗi con người. Đối có Nguyễn Trung Ngạn, 2 trong khoảng “đất khách” ám chỉ Trung Quốc phồn hoa, đô hội nơi ông đi sứ 1 thời kì. sở hữu ông, dù ở nơi phồn hoa, đô hội như thế “dẫu vui” cũng “chẳng bằng về” mang nơi chôn rau cắt rốn đời mình. nhà thơ đã dùng biện pháp so sánh tài ba trong hai câu thơ để so sánh quê nghèo và đất khách càng khẳng định tình yêu quê hương thiết tha sâu nặng của nhà thơ. chậm tiến độ là triết lý sông của các bậc hiền triết xưa, luôn say mê cuộc sống cao nhã, giản dị chốn quê nhà.

Chỉ với 1 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt có bốn câu thơ ngắn ngủi, nhịp thơ ăn nhịp, hình ảnh thơ bình dị, gần gũi, bài thơ đã khiến cho vượt trội 1 miền quê thái hoà, giản dị cộng tình yêu quê hương, nỗi nhớ của Nguyễn Trung Ngạn sở hữu quê hương của mình.

Quy hứng là 1 bài thơ nức tiếng của Nguyễn Trung Ngạn. Bài thơ đã khắc họa thành công nỗi nhớ quê hương với các hình ảnh thân yêu và bình dị. Qua Đó, thi sĩ gửi gắm trong ngừng thi côngĐây tình yêu quê hương da diết luôn túc trực trong trái tim mình cộng triết lý sống thanh cao nơi miền quê thái bình. Bài thơ cũng là tiếng lòng của các người con xa xứ, khơi gợi được rộng rãi xúc cảm trong trái tim người đọc về nơi quê cha đất tổ.

phân tích khổ 1 bài đây thôn vĩ dạ 
phân tích bài thơ khi con tu hú 
soạn văn bản văn học